Categories
Giải Ảo Lịch Sử

Vì Sao Chỉ Có Quốc Gia VNCH Là Quốc Gia Hợp Pháp Sau Năm 1954?

Trước khi đi vào bài viết. Tôi xin nhắc lại cho quý vị về “tánh chánh danh” của Việt Nam.

Việt Nam ta đã có một vị cha lập quốc là Cao Tổ Gia Long. Ông là người đã thành lập quốc gia mang tên “Việt Nam” sau khi thống nhứt 3 miền: Bắc, Trung, và Nam. Kể từ đó tánh chánh danh này được truyền tiếp qua 13 đời vua cho đến Vua Bảo Đại.

Ở bài viết trước, tôi có viết về Việt Nam dưới thời cai trị của Việt Cộng là một Quốc Gia bất hợp pháp từ năm 1945. Quý vị có thể đọc lại bài viết dưới đây:

Vì Sao Việt Nam Dưới Thời Cai Trị Của Việt Cộng Là Một Quốc Gia Bất Hợp Pháp Từ Năm 1945?

Như vậy Quốc Gia nào là hợp pháp kế thừa chánh danh từ Quốc Gia VN dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại?

Câu trả lời có trong bài viết trước. Chỉ có Quốc Gia VNCH kế thừa chánh danh từ Quốc Gia VN dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại mà thôi. Lý do là vì sao?

Vào ngày 11 tháng 3 năm 1954, Vua Bảo Đại đã đọc Tuyên Ngôn Độc Lập cho Đế Quốc Việt Nam để Việt Nam thoát khỏi sự cai trị của thực dân Pháp. Như vậy Đế Quốc Việt Nam đã được độc lập. Xin nhấn mạnh đây là Bản Tuyên Ngôn cho Đế Quốc Việt Nam chứ không phải là Quốc Gia Việt Nam.

Cho tới ngày 25 tháng 8, cùng thời gian Việt Minh cướp chánh quyền, Vua Bảo Đại bị ép thoái vị. Đây mới là ngày mà ông bị ép thoái vị và làm lễ thoái vị ngày 30 tháng 8. Sau khi tuyên bố thoái vị, Vua Bảo Đại đã trao ấn tín và kiếm cho Việt Minh, người nhận là Trần Huy Liệu. Như tôi đã viết ở bài trước, VNDCCH không bao giờ kế thừa tánh chánh danh vì chúng cướp chánh quyền và ép trao quyền. Chứ không phải là do ông Bảo Đại tự nguyện trao quyền cho Việt Minh. Quý vị có thể xem ở bài viết dưới đây:

Vì Sao Việt Nam Dưới Thời Cai Trị Của Việt Cộng Là Một Quốc Gia Bất Hợp Pháp Từ Năm 1945?

Còn một lý do khác nữa rất hợp lý cho thấy ông vẫn là Vua của Đế Quốc Việt Nam sau khi trao quyền. Lý do là vì ông chưa bao giờ trao ấn tín cho Việt Minh. Quý vị có thể hỏi là “Tại sao ông Bảo Đại trao Ấn và Kiếm cho Việt Minh rồi nhưng sao giờ lại nói là chưa trao Ấn?”. Tôi sẽ viết một bài giải thích ở một bài viết sau.

Mãi cho tới năm 1948 ông mới thực sự tuyên bố thoái vị và trở thành Quốc Trưởng. Sau đó thành lập Quốc Gia Việt Nam vào ngày 14 tháng 6 năm 1949. Trước đó ông đã đọc Tuyên Bố Độc Lập cho Quốc Gia Việt Nam vào ngày 06 tháng 6 năm 1949.

Bản Tuyên Ngôn Của Cựu Hoàng Bảo Đại
Bản Tuyên Ngôn Của Cựu Hoàng Bảo Đại

Quốc Gia Việt Nam cũng chính là Quốc Gia theo thể chế Quân Chủ Lập Hiến. Quốc Trưởng Bảo Đại đã mời Ngô Đình Diệm về Việt Nam làm Thủ Tướng và do chính Thủ Tướng điều hành chánh trị. Như vậy, ông Ngô Đình Diệm đã làm việc dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại.

Sau năm 1954, Quốc Gia Việt Nam bị chia đôi tại vỹ tuyến 17: Miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa(VNCH). Sau cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1955 thì ông Ngô Đình Diệm đã trở thành Tổng Thống của Đệ Nhứt VNCH và phế truất Bảo Đại. Như vậy: Thủ tướng Quốc gia Việt Nam đã làm việc dưới thời của Quốc Trưởng Bảo Đại và sau đó được bầu làm Tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa. Do đó, có thể xác định mạnh mẽ rằng : Chỉ có Quốc Gia VNCH mới kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia Việt Nam.

Tổng Thống Đệ Nhứt VNCH Ngô Đình Diệm

Kết luận:

Chỉ có Quốc Gia VNCH kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia Việt Nam dưới thời Bảo Đại. Sau cuộc Tổng Tuyển Cử, tức là dân bầu lên, ông Ngô Đình Diệm thành Tổng Thống của Đệ Nhứt VNCH và phế truất Bảo Đại. Quốc Gia VNCH cũng dùng lá cờ vàng 3 sọc đỏ như thời Quốc Gia VN. Còn VNDCCH, với hậu thân là CHXHCN VN, muôn đời không bao giờ kế thừa tánh chánh danh của Quốc Trưởng Bảo Đại. Lý do là vì Quốc Trưởng Bảo Đại không trao Ấn Tín cho Việt Minh.

Cho nên người dân miền Nam VN phải nhớ rằng sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, thì chúng đã vi phạm Hiệp Định Paris 1973 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Thậm chí theo luật Quốc Tế, một Quốc Gia đi chiếm đóng nước khác không bao giờ kế thừa tánh chánh danh. Như vậy là tất cả quý vị đều là công dân VNCH chứ đâu phải là công dân CHXHCN VN. Đã là công dân VNCH thì chúng ta phải có trách nhiệm quang phục lại VNCH! Đã có một giải pháp giúp chúng ta lấy lại Quốc Gia VNCH. Mời mọi người vào trang Tuổi Trẻ Quốc Gia để tham khảo: https://www.tuoitrequocgia.org/

Categories
Giải Ảo Lịch Sử

Tại sao người Việt chúng ta không bị Tàu đồng hóa suốt 1000 năm Bắc Thuộc ?

Courtesy of Hoàng Cơ Định

VÌ CHÚNG TA CÓ NGÔN NGỮ RIÊNG: TIẾNG VIỆT.
TIẾNG VIỆT CÒN, DÂN VIỆT CÒN.

Một ngàn năm Bắc thuộc đã được các sử gia Việt Nam quy định bắt đầu từ năm 111 TCN, kết thúc vào năm 938 do chiến thắng của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Thật ra nước ta đã bị Bắc thuộc từ năm 180 TCN bởi nước Nam Việt của Triệu Đà. Triệu Đà là một viên Tướng của Tần Thủy Hoàng, ông đã chiếm cứ 3 quận phía Nam của nhà Tần mà lập nên nước Nam Việt vào năm 208 TCN. Tới năm 180 TCN Triệu Đà xâm chiếm nước Âu Lạc, chia thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân sát nhập vào Nam Việt. Đối với Âu Lạc, Triệu Đà cai trị một cách khoan nhượng, coi Âu Lạc như một thành phần của Bách Việt và đã tạo được cảm tình lâu dài. Khi Nam Việt bị nội thuộc Nhà Hán thì Âu Lạc cũng bị chung số phận.

Vào năm 226, sau nhiều cuộc nổi dậy của người Âu Lạc, nước Tàu lúc đó thuộc Nhà Đông Ngô, đã chia lãnh thổ Nam Việt trước đây dọc theo biên giới Việt Hoa ngày nay, phía Nam gồm Âu Lạc và Hợp Phố gọi là Giao Châu, phía Bắc là Quảng Châu. Tới năm 938 Âu Lạc giành lại được quyền tự chủ sau chiến thắng của Ngô Quyền trong khi Quảng Châu hoàn toàn thuộc về nước Tàu.

Vì sao, trong chiều dài 1000 năm, người dân Âu Lạc giữ được sắc thái riêng biệt, không bị đồng hóa với khối người Hán tại phương Bắc? Chắc hẳn có nhiều lý do, một phần có thể do yếu tố địa lý, núi cao chia cắt vùng này với phương Bắc. Quan trọng hơn là do các sắc dân sống trong thung lũng Sông Hồng, dòng dõi của Lạc dân thời Hùng Vương, có đặc tính khác biệt so với dân Bách Việt trong vùng Hoa Nam. Yếu tố đã tạo nên một Dân Tộc Tính khác biệt đã được thấy rõ hơn vào các thế kỷ kế tiếp, đó chính là vì tiếng nói riêng biệt của tổ tiên chúng ta trước đây, đó là Tiếng Việt.

Có tiếng nói nhưng chưa chắc đã có chữ viết, hay vì chữ viết quá thô sơ nên tổ tiên chúng ta đã sử dụng chữ Hán để ghi chép sự việc. Nhu cầu vay mượn chữ Hán của người phương Nam đã ăn nhịp với việc dùng Hán tự như một phương tiện bành trướng của phương Bắc. Hán học chính là quyền lực mềm của nước Tàu từ nghìn xưa.

Hán học đã ăn sâu vào văn hóa nước ta, ngay như sau khi đã giành được độc lập, các triều đại Việt Nam vẫn dùng chữ Hán làm văn tự chính thức. . Hán tự mà dân Việt gọi là chữ Nho viết như chữ Tàu, chỉ có cách phát âm là khác.

Dầu cho bị ảnh hưởng sâu đậm qua chữ Viết nhưng tổ tiên chúng ta vẫn có ngôn ngữ nói riêng biệt. Năm 791 Phùng Hưng nổi lên chống lại ách đô hộ của Nhà Đường, lấy lại độc lập cho nước Ta được 7 năm. Khi mất được dân chúng tôn làm Bố Cái Đại Vương. Hai chữ “Bố Cái” có nghĩa là “Cha Mẹ” là những chữ không có trong chữ Nho. Nỗ lực viết Tiếng Việt một cách riêng biệt được thực hiện bắt đầu từ thời Nhà Trần qua lối viết chữ Nôm. Lối viết Chữ Nôm chính là nỗ lực Việt Nam hóa Hán tự. Các Cụ đã dùng những chữ Hán ghép lại để đọc các âm thanh thuần túy trong ngôn ngữ của dân ta. Chữ Nho chỉ là lối viết và phát âm của một thiểu số trí thức trong xã hội trong khi chữ Nôm (có thể do âm thanh “chữ Nam”) mới ghi lại tiếng nói lâu đời phổ thông trong quần chúng.

Hai câu mở đầu trong bản “Hịch Xuất Quân” của Nguyễn Huệ đã được viết bằng chữ Nôm và đọc hoàn toàn theo tiếng nói của người Việt Nam:
打未底𨱾𩯀

打未底黰𪘵

“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng”

Chỉ câu kết, có thể vì thói quen đã ăn xâu vào tâm thức người Việt qua nhiều thế kỷ, nên Nguyễn Huệ đã phát biểu vừa Nôm vừa Hán:
“Đánh cho Sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”

(Đánh để sử xanh ghi lại là nước Nam anh hùng này có chủ.)

Bắt đầu từ Thế Kỷ 19, dưới triều đại độc lập Gia Long, văn học Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ qua các tác phẩm chữ Nôm như Truyện Kiều của Nguyễn Du và Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm. Hai tác phẩm này là biểu thị của Dân Tộc Tính Việt Nam, đã lan tỏa từ Nam tới Bắc.

Qua tới Thế kỷ 20, lối viết bằng chữ Quốc ngữ đã thay thế cho chữ Nôm (là lối viết khó học, khó nhớ), giúp cho tiếng Việt nối kết dân tộc Việt Nam từ Nam tới Bắc. Học giả Phạm Quỳnh đã có một nhận định sâu sắc: “Tiếng nước Nam còn thì nước Nam còn”. Và Nhạc sĩ Phạm Duy đã đồng hóa tiếng Việt với nước Việt qua lời nhạc bất hủ:
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi. Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, Nước ơi!”

Tiếng Việt đã giúp dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa bởi đế quốc phương Bắc suốt ngàn năm qua, đó là lý do thế hệ chúng ta cần nỗ lực Học và Dạy nhau Tiếng Việt.

Còn Tiếng Việt thì Còn Dân Việt, Còn Nước Việt.

Hoàng Cơ Định

22/10/2022

Categories
Cảnh Báo Tuyên Truyền Giải Ảo Lịch Sử Quan Điểm Chính Trị

Vì Sao Việt Nam Dưới Thời Cai Trị Của Việt Cộng Là Một Quốc Gia Bất Hợp Pháp Từ Năm 1945?

Tánh Chánh Danh là gì?

Tánh chánh danh nghĩa là tánh “có nội dung, có chất lượng đúng với tên gọi”⁽¹⁾. Ví dụ như là Vương Quốc Việt Nam, Cộng Hòa Việt Nam, Hợp Chủng Quốc Đại Nam, v.v… Mà để có tánh chánh danh này thì phải bắt nguồn từ các vị lập quốc. Ví dụ : Ở Hoa Kỳ thì gồm có 55 vị cha lập quốc đã soạn ra Hiến Pháp và đặt tên cho thể chế là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ bởi vì Hoa Kỳ là Quốc Gia có rất nhiều sắc tộc di cư đến sinh sống.

Tánh Chánh Danh của Việt Nam là gì?

Theo như định nghĩa ở trên thì một thể chế muốn có được tánh chánh danh thì phải có được tính truyền-tiếp, kế-thừa hợp-pháp từ chính người lập ra thể chế đó.

Việt Nam ta đã có một vị cha lập quốc đó chính là Nguyễn Phước Ánh, tức Cao Tổ Gia Long. Ông là người có công thống nhất 3 miền Bắc, Trung, Nam thành một Quốc Gia và cũng là người đã đặt tên cho đất nước này là “Việt Nam.” Kể từ đó tánh chánh danh này được truyền tiếp qua 13 đời vua cho đến Vua Bảo Đại.

Vậy làm cách nào để kế thừa tánh chánh danh đó?

Tùy theo thể chế của Quốc Gia đó sẽ quyết định quyền kế thừa tánh chánh danh:

  1. Từ thời Cao Tổ Gia Long, thể chế của VN thời điểm đó là Quân Chủ Chuyên Chế. Tức là người đứng đầu đất nước là Vua, và người kế ngôi là các Vương Tử sau này. Các Vương Tử kế ngôi đó sẽ kế thừa tánh chánh danh của các đời trước. Trong trường hợp bất đắc dĩ, nếu không có hậu duệ của các đời vua trước thì theo luật Tể Tướng sẽ là người lên ngôi trị vì.
  2. Còn theo thể chế Cộng Hòa hoặc Quân Chủ Lập Hiến thì sẽ là do người dân bầu lên dựa trên trưng cầu dân ý để làm Tổng Thống hoặc Thủ Tướng. Với điều kiện là phải kế thừa người lập quốc. Trong trường hợp bất đắc dĩ nếu Tổng Thống(TT) mất thì Phó TT sẽ lên thay. Còn nếu Phó TT mất thì Chủ Tịch Thượng Viện hoặc Hạ Viện sẽ lên làm Tổng Thống và tổ chức cuộc bầu cử mới (tùy theo Hiến Pháp của Quốc Gia đó).
  3. Nếu như có một tổ chức hay cá nhơn nào đó cướp chánh quyền mà không phải do dân bầu hoặc không phải là hậu duệ của Hoàng Gia Chuyên Chế thì sẽ không bao giờ kế thừa được tánh chánh danh.

Từ xưa đến nay nhiều ý kiến từ phía bên kia chiến tuyến, tức những thành phần theo Cộng Sản, cho rằng Vua Bảo Đại đã thoái vị dưới sự yêu cầu của Việt Minh. Tới ngày 29 tháng 8, ông Bảo Đại trao ấn kiếm từ thời Vua Gia Long cho Việt Minh và kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN dưới thời Bảo Đại. Cho đến nay Cộng Sản luôn tuyên truyền rằng “Bác Hồ là người có công giúp cho VN được độc lập. Bác đã độc Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2 tháng 9 cho thấy VN ta đánh dấu sự kiện chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến và từ nay sẽ có một chính quyền khác do nhân dân làm chủ.”

Nếu như quý vị tìm hiểu về lịch sử thì sẽ thấy mọi lời tuyên truyền của Ban Tuyên Giáo đều sai sự thật. Ngày cách mạng tháng 8 và ngày Quốc Khánh của VN cũng đều sai sự thật. Ngày cách mạng tháng 8 thực chất là ngày Việt Minh cướp chánh quyền của Trần Trọng Kim. Còn ngày Quốc Khánh 2 tháng 9 là giả tạo. Quý vị có thể đọc hai bài của tôi đã viết:


Như tôi nêu ở trên là cướp chánh quyền thì đâu có nghĩa người ta sẽ kế thừa tánh chánh danh của người đứng đầu. Ví dụ nhà quý vị bị cướp chiếm lấy căn nhà và ở luôn trong căn nhà đó thì đâu có nghĩa bọn cướp được kế thừa chủ quyền căn nhà đó. Giấy tờ nhà của quý vị còn đó. Chừng nào tên của quý vị còn in trên giấy thì chú quyền căn nhà vẫn thuộc về quý vị. Trừ khi quý vị và lũ cướp đó thỏa hiệp và đi sang tên cho tụi nó thì chúng mới có quyền thừa kế.

Cho nên Ban Tuyên Giáo nói Bảo Đại trao ấn kiếm cho Việt Minh trước khi thoái vị và kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN là hết sức vô lý. Có hai điểm vô lý của Việt Cộng sau đây:

  1. Việt Cộng tuyên truyền rằng: Vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8, năm 1945 sau 1 ngày trao ấn kiếm cho Việt Minh.
  2. Sau khi nhận ấn kiếm thì Việt Minh đã “tuyên bố xóa bỏ chính thể quân chủ từ ngày xưa để lại và chấm dứt ngôi vua cuối cùng của triều Nguyễn.”

Hai điểm trên quý vị có thấy mâu thuẫn với hai bài viết của tôi không? Sự thật là gì?

  1. Vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập vào ngày 11 tháng 3, năm 1945. Ông cũng đã tuyên bố thoái vị ngày 25 tháng 8 và đồng thời chấm dứt chế độ quân chủ và xây dựng thể chế tự do dựa trên trưng cầu dân ý.
  2. Lúc này Bảo Đại không còn là Vua nữa thì dù cho ông có trao ấn kiếm đó thì cũng không có giá trị gì cả. Người trao ấn kiếm đó phải là một vị vua còn tại chức thì mới hợp lệ.
Hình Ảnh Quốc Trưởng (không phải Vua) Bảo Đại trao ấn kiếm cho Việt Minh
Bản Tuyên Bố Thoái Vị của Vua Bảo Đại ngày 25 tháng 8, năm 1945

Quý vị thấy những điểm trên của Việt Cộng có thấy sự dối trá của chúng chưa? Mà cho dù Quốc Trưởng Bảo Đại có trao ấn kiếm đi chăng nữa để Việt Minh có được tánh chánh danh thì họ phải thừa hành ý chí của ông. Nguyện vọng của Quốc Trưởng Bảo Đại là làm sao để dân được tự dotự quyết định tương lai của mình. Vậy mà Việt Minh hay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa(VNDCCH) không hề thực hiện theo nguyện vọng của Quốc Trưởng Bảo Đại. Nếu như Việt Minh không kế thừa ý chí của Quốc Trưởng Bảo Đại thì dù cho có được trao ấn kiếm thì cũng không có giá trị về thừa kế tánh chánh danh.

Sau khi VN chia đôi vào năm 1954 thì chỉ có Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) mới kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN. Lý do là vì VNCH có tổ chức cuộc trưng cầu dân ý và bầu ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Đồng thời ông cũng từng là Thủ Tướng do Quốc Trưởng Bảo Đại tin tưởng và chỉ định. Tức là VNCH kế thừa ý chí của Quốc Trưởng Bảo Đại có tổ chức cuộc trưng cầu dân ý, tức là để cho quốc dân tự quyết định vận mạng tương lai Quốc Gia. Trong khi VNDCCH thì không bao giờ tổ chức cuộc trưng cầu dân ý thì đồng nghĩa họ đâu hề kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN từ thời Quốc Trưởng Bảo Đại.

Cuộc Trưng Cầu Dân Ý dưới thời Đệ Nhứt VNCH

Quý vị có thể xem video này để tham khảo thêm:

Video giải ảo về tánh chánh danh

Kết luận, chỉ có VNCH mới kế thừa tánh chánh danh vì đã thực hiện theo nguyện vọng của Quốc Trưởng Bảo Đại là mang lại tự do dân chủ cho dân Việt. Còn VNDCCH không bao giờ kế thừa vì vào thời điểm trao ấn kiếm Bảo Đại không còn là vua nữa và đồng thời chúng không bao giờ tổ chức bầu cử dựa trên trưng cầu dân ý.

Cho nên quý vị phải hiểu rõ Việt Nam bây giờ, tức CHXHCNVN, là một Quốc Gia bất hợp pháp. Chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mới là Quốc Gia hợp pháp, hợp hiến, và có chánh danh. Hiện tại chúng ta đang có Chánh Phủ Pháp Định VNCH tiếp tục công quyền của Đệ Nhị VNCH. Chúng ta chỉ tin tưởng vào Chánh Phủ Pháp Định và Chánh Phủ Đệ Tam VNCH sau này mà thôi. Chánh Phủ Pháp Định đang làm việc cật lực để giúp cho miền Nam có cuộc Tổng Tuyển Cử. Cho nên quý vị phải tỉnh thức và tỉnh táo để nhận thức được rẳng: Chỉ có Chánh Phủ Pháp Định VNCH mới là đồng minh của quý vị. Đồng thời Quốc Gia VNCH mới là Quốc Gia của quý vị chứ không phải là nước VN hiện tại đang bị lũ chóp bu cộng sản VN thời nay cai trị.

Nhân đây, xin mời quý vị theo dõi trang web mới của chúng tôi để hiểu hơn về Chánh phủ pháp định VNCH. Rất nhiều thắc mắc của quý vị sẽ được giải đáp ở đây. Xin đừng ngần ngại liên lạc nếu quý vị có câu hỏi liên quan nào đến chúng tôi: https://www.tuoitrequocgia.org

Nguồn:

  1. Định Nghĩa Chánh Danh: http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ch%C3%ADnh_danh
  2. Vua Bảo Đại thoái vị, trao ấn, kiếm như thế nào?https://zingnews.vn/vua-bao-dai-thoai-vi-trao-an-kiem-nhu-the-nao-post821582.html
  3. Hồi Ký Vua Bảo Đại: Cách Mạng Việt Minh trang 186 trích đoạn Tuyên Bố Thoái Vị https://drive.google.com/file/d/1rRk_pQVlfLC2pYTtYP2Dlq4M09aO-VE4/view?usp=sharing
Categories
Quan Điểm Chính Trị

Bà Thatcher Muốn Ông Fraser Mua Hòn Đảo Cho Người Việt Tỵ Nạn.

Bài viết được dịch từ bài gốc tờ báo Sydney Morning Herald: https://www.smh.com.au/national/thatcher-wanted-fraser-to-buy-island-for-refugees-20091230-ljy3.html

LO NGẠI về phản ứng dữ dội của công chúng đối với người tỵ nạn Việt Nam, bà Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher đã đề nghị Úc giúp mua một hòn đảo để tái định cư cho họ, tài liệu này được tiết lộ từ nội các Anh Quốc từ năm 1979.

Được tháo mở sau 30 năm bị bắt buộc im tiếng, các bài báo trên Phố Downing tiết lộ mức độ không thiện cảm của Bà Thủ Tướng Anh lúc bấy giờ đối với việc cấp phép tỵ nạn cho 10,000 thuyền nhân theo yêu cầu của Liên Hiệp Quốc.

Người Đàn Bà Thép đã cảnh báo các Bộ Trưởng của mình về ”bạo loạn trên đường phố” và nghĩ ra một kế hoạch để Thủ Tướng Úc lúc bấy giờ là Malcolm Fraser cùng mua một hòn đảo ở Indonesia hoặc Philippines – ”không chỉ như một nơi trung chuyển mà còn là một nơi định cư cho tất cả những người tỵ nạn”, các báo chí cho biết.

Margaret Thatcher hy vọng Malcolm Fraser sẽ giúp bà khỏi phải tiếp nhận hàng ngàn thuyền nhân Việt Nam.

Kế hoạch về một khu định cư của người tỵ nạn đã bị chặn bởi Lý Quang Diệu, lãnh đạo của Singapore, người lo ngại nguy cơ Quốc Gia này có thể trở thành một ”thành phố đối thủ trong kinh doanh”.

Cựu Thủ Tướng Đảng Tự do đã không thể nhớ đề xuất ngày hôm qua nhưng ông vẫn nhớ sự thiếu thiện chí của Anh quốc trong việc hỗ trợ nỗ lực tái định cư. ” Tôi hoàn toàn không có hồi ức về nó. Tôi có một trí nhớ khá tốt về những gì đã xảy ra vào thời điểm đó, ” ông Fraser nói. ” Người Anh không tham gia vào việc tiếp nhận một số lượng lớn người tỵ nạn Việt Nam. Chúng tôi, Canada, Hoa Kỳ và Pháp đã tiếp nhận rất nhiều.”

Úc cuối cùng đã trở thành quê hương của khoảng 220.000 người Việt tỵ nạn. Canada tiếp nhận thêm một số, Mỹ hơn một triệu, và Pháp khoảng 90.000 người tỵ nạn.

Ông Fraser nói: “Một trong những vấn đề là rất nhiều người chạy trốn khỏi Việt Nam trên những chiếc thuyền.… hoàn toàn không phù hợp để sinh tồn trên biển.”

”Vì vậy, điều cần thiết là cố gắng thành lập các nơi tỵ nạn ở một trung tâm nhất định mà họ có thể đến mà không làm cho cuộc hành trình dài hơn nó phải có.”

Malaysia ban đầu đã đẩy thuyền trở lại biển và nhiều người tỵ nạn được cho là đã chết đuối.

”Là kết quả của ngoại giao, họ đã đồng ý thành lập các trung tâm lưu trú. Việc đó chỉ xảy ra với điều kiện rằng chúng tôi và các quốc gia khác sẽ tiếp nhận một số lượng rất lớn người tỵ nạn để họ không bị bỏ lại, vì đó là một vấn đề đối với Malaysia”, ông nói.

Ông Fraser nói rằng cần phải có một nỗ lực toàn cầu tương tự. Ông nói, những lời chỉ trích liên tục của phe đối lập về các chính sách bảo vệ biên giới của Chính phủ đã trở thành một chuyện hoang tưởng lâu dài.

”Đây rõ ràng là chuyện vô nghĩa. Các chính trị gia sẽ ngạc nhiên về mức độ được ủng hộ của một đảng chính trị, nếu đảng đó thực sự lên tiếng, góp sức giúp cho người xin định cư tỵ nạn và người chạy nạn cũng như giải thích về hoàn cảnh, vì sao mà họ đang chạy nạn.

”Điều đó chứng tỏ bạn phải có rất nhiều dũng khí để bỏ lại tất cả, để cố gắng có được một tương lai tốt đẹp hơn cho gia đình của bạn.”

Lập trường tự do của chính phủ Fraser đối với người tị nạn Việt Nam không gặp phải sự phản đối chính trị nào.

Categories
Cảnh Báo Tuyên Truyền Giải Ảo Lịch Sử Quan Điểm Chính Trị

Ngày Độc Lập Của Quốc Gia Việt Nam Là Ngày Nào?

Ngày Quốc Khánh của Việt Nam là ngày 2 tháng 9 phải không? Không. Ngày 2 tháng 9 không phải là ngày Quốc Khánh của Việt Nam. Lý do vì sao tôi nói vậy thì tôi sẽ giải thích ở trong bài viết này.

Như chúng ta đã từng học trong mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa, Cộng Sản Việt Nam đã viết trong sách giáo khoa rằng ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc Khánh của Việt Nam. Hồ Chí Minh đã đọc tuyên cáo độc lập cũng vào ngày đó và “tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).”

Thực chất là không phải như vậy. Như bài viết trước tôi có đề cập là ngày Cách Mạng Tháng 8 thực chất là ngày cướp chánh quyền của Thủ Tướng Trần Trọng Kim. Lúc đó Quốc Gia Việt Nam đã được độc lập và chấm dứt thể chế Quân Chủ, chuyển sang một thể chế tự do, dân chủ, và trưng cầu dân ý. Trần Trọng Kim là Thủ Tướng của Quốc Gia Việt Nam do Vua Bảo Đại chỉ định. Tuy nhiên, Nội Các của Trần Trọng Kim bị Việt Minh cướp sau 4 tháng tồn tại vì lúc đó còn hạn chế về quân đội. Quý vị có thể đọc thêm ở bài viết này:

https://hauduenamviet.blog/2022/08/26/ngay-cach-mang-thang-8-thuc-chat-la-ngay-viet-minh-cuop-chanh-quyen-tran-trong-kim/

Cho nên đã là cướp thì đương nhiên chánh phủ này đã bất hợp pháp rồi. Dù cho Hồ Chí Minh có lên đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 2 tháng 9, tức ngày Quốc Khánh, thì cũng không có giá trị về mặt pháp lý, tức là không có chánh danh. Không những thế, bản tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chí Minh soạn và đọc thực ra là đi ăn cắp từ bản Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ như:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Cho dù có trích đoạn này mà không có sự cho phép của Hoa Kỳ thì cũng là ăn cắp từ nước khác. Suy ra nó cũng không hề có giá trị và không hợp pháp.

Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn độc lập” ngày 2 tháng 9
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ăn cắp từ Hoa Kỳ
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ

Ngày Quốc Khánh của Quốc Gia Việt Nam chính là ngày 11 tháng 3, hai ngày sau khi Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Đông Dương và chánh thức thỏa thuận việc trao trả độc lập cho Việt Nam, Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên bố độc lập trước sự chứng kiến của đại sứ Nhật Bản Yokoyama Masayuki đồng thời thành lập Chính phủ Đế quốc Việt Nam, do thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu (xem hình bên dưới). Ông đã ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” (BBC Tiếng Việt).

Sau năm 1954, nước Việt Nam bị chia đôi thành hai quốc gia, hai thể chế riêng biệt chiếu theo Hiệp Định Geneve 1954. Ngày Quốc Khánh ở miền Bắc, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa(VNDCCH), thì được cho là vào ngày 2 tháng 9 từ khi cướp chánh quyền Trần Trọng Kim, và không được bất cứ chính quyền nào trên thế giới công nhận ở thời điểm đó.

Còn ở miền Nam thì theo thể chế Cộng hòa gọi là Việt Nam Cộng Hòa. Thời Đệ Nhứt VNCH, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, “ngày 26/10/1956, – ngày Quốc Hội Lập Hiến chính thức ban hành Hiến Pháp được xem là Ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” (Phan Anh Tuấn; dòng 1). Quốc Gia VNCH là Quốc Gia kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại nên rõ ràng “Ngày 26/10/1956 khai sinh Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa Ngày Quốc Khánh rất hợp lý hợp tình và… hợp pháp! (Phan Anh Tuấn; dòng 23).

Đệ Nhứt Cộng Hòa

Đến năm 1967, một bản Hiến pháp mới được thông qua và thi hành, dẫn đến sự ra đời của nền Đệ nhị cộng hòa (1967-75). Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam (1967-1975) là chánh thể dân sự của Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở của bản Hiến pháp tháng 4 năm 1967 và cuộc bầu cử tháng 9 năm 1967. Ngày 1 tháng 11 năm 1967 được xem là ngày chính thức thành lập nền Đệ Nhị Cộng hòa. Cũng như thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ngày Quốc Khánh Đệ Nhị Cộng Hòa cũng rất hợp tình, hợp lý, và hợp pháp vì đây là Quốc Gia kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Tất nhiên, chúng ta coi ngày Quốc Khánh chánh thức của Quốc Gia VN là ngày 1 tháng 11 năm, 1967.

Đệ Nhị Cộng Hòa

Sau cuộc cưỡng chiếm miền Nam 1975, ngày 2 tháng 9 được ép buộc là “ngày Quốc Khánh” cho đất nước Việt Nam. Như tôi đã viết ở trên, ngày 2 tháng 9 được cho là ngày Quốc Khánh của Việt Nam là hoàn toàn không có giá trị. Sau khi Việt Minh cướp chánh quyền Trần Trọng Kim thì mặc nhiên đã là bất hợp pháp rồi. Sau năm 1954, miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng là một quốc gia bất hợp pháp. Lý do là miền Bắc không hề kế thừa tánh chánh danh của Quốc Gia VN dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại cũng như không hề có một cuộc trưng cầu dân ý. Quốc Gia VNCH thời Đệ NhứtĐệ Nhị thì có trưng cầu dân ý, tức là có cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do. Chỉ có VNCH mang tánh kế thừa của Quốc Gia VN vì ý chí của Quốc Trưởng Bảo Đại là mang lại một đất nước có tự do và dân chủ. Quốc gia Việt Nam là nước có chánh danh, nên quý vị muốn nói là ngày 11 tháng 3, ngày 26 tháng 10, hoặc ngày 1 tháng 11 là ngày Quốc Khánh gì cũng hợp lý, để tránh việc sa đà vào những cuộc tranh cãi không đáng có, chỉ làm lợi và câu giờ cho cộng sản. Vì Quốc Gia đó đều hợp pháp và có chánh danh.

Mời quý độc giả xem video sau để biết thêm chi tiết và tham khảo những bài học lịch sử cần rút ra để sắp tới không mắc bẫy và không mắc phải những sai lầm không nên có:

Quý vị có thể đọc bài viết mới của tôi giải thích vì sao VNDCCH không hề kế thừa tánh chánh danh cho dù được Quốc Trưởng Bảo Đại trao ấn kiếm, hòng vạch mặt tập đoàn CSVN dối trá vẫn luôn tuyên truyền rằng VNDCCH kế thừa Quốc Gia VN dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại.

Bài viết: https://hauduenamviet.blog/2022/10/21/viet-nam-dan-chu-cong-hoa-khong-ke-thua-tanh-chanh-danh-cua-quoc-gia-vn-duoi-thoi-bao-dai/

  1. NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP: http://kkt.kontum.gov.vn/ngay-quoc-khanh-29-gia-tri-lich-su-y-nghia-thoi-dai-cua-ban-tuyen-ngon-doc-lap.p-1611.html
  2. Ngày độc lập nào cho Việt Nam?https://www.bbc.com/vietnamese/forum/2014/09/140901_ngay_doc_lap_nao_le_cong_dinh
  3. Ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa là … ngày nào? https://hon-viet.co.uk/PhanAnhTuan_NgayQuocKhanhVietNamCongHoaLaNgayNao.htm
  4. QUỐC KHÁNH ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA NGÀY 1 THÁNG 11 NĂM 1967: https://chienhuuvnch.com/2018/01/17/quoc-khanh-1-thang-11-nam-1967/
Categories
Cảnh Báo Tuyên Truyền Giải Ảo Lịch Sử Quan Điểm Chính Trị

Ngày Cách Mạng Tháng 8 Thực Chất Là Ngày Việt Minh Cướp Chánh Quyền Trần Trọng Kim

Chúng ta được học trong mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa là Cách mạng tháng 8, năm 1945 là ngày thắng lợi trong việc “đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc thực dân áp bức, thống trị. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình” (Ban Tuyên Giáo Trung Ương; Đoạn 9).

HOÀN TOÀN SAI SỰ THẬT! Ngày Cách Mạng Tháng 8 thực chất là ngày mà Việt Minh đã cướp chánh quyền của Thủ Tướng Trần Trọng Kim.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945 là ngày Hoàng Đế Bảo Đại đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Đây cũng là ngày mà Quốc Gia Việt Nam được độc lập và cũng là Ngày Quốc Khánh của Quốc Gia Việt Nam. Sau khi đọc Tuyên Ngôn Độc Lập, Hoàng Đế Bảo Đại đã thoái vị và chánh thức chuyển sang từ chế độ Quân Chủ trở thành một Quốc Gia có chủ quyền, độc lập, tự do và có trưng cầu dân ý.

Vua Bảo Đại đọc Tuyên Cáo Độc Lập.

Đồng thời, Thủ Tướng chánh phủ Đế Quốc Việt Nam lúc bấy giờ là ông Trần Trọng Kim, được Vua Bảo Đại chỉ định, đã thành lập Nội Các Chánh Phủ. Nội Các được thành lập ở Huế vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. “Đây là một dạng chính phủ nghị viện đầu tiên tại Việt Nam và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức luật sư, bác sĩ, kỹ sư (một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư)” (Ngọc Anh; dòng 10). Nội Các của Trần Trọng Kim chỉ tồn tại được vỏn vẹn 4 tháng(17/4 – 25/8) mà thôi.

Vì sao Chánh Phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại vỏn vẹn 4 tháng?

Chánh Phủ Trần Trọng Kim lúc được thành lập rất có nhiều hạn chế “gồm cả việc không có Quốc hội, không có quân đội và không được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản.” Cho nên lúc đó, Việt Minh đã lợi dụng thời cơ đó để cướp chánh quyền của Trần Trọng Kim. Chúng ngang nhiên thay lá cờ máu và treo lên trước toàn dân vào ngày 21 tháng 8, năm 1945.

Cảnh Việt Minh treo lá cờ máu trước toàn dân sau khi cướp chánh quyền Trần Trọng Kim

Trong lúc Việt Minh cướp chánh quyền, không một ai ngăn cản cả. Người dân lúc đó tưởng là Việt Minh là chánh phủ tiếp theo. Ngay cả Quốc Trưởng Bảo Đại cũng “không cho binh lính mai phục bắn vào nhóm thanh niên theo Việt Minh trèo lên kỳ đài ở Huế hạ cờ vàng và kéo cờ đỏ sao vàng lên cột ngày 21/08″(BBC Tiếng Việt). Vua Bảo Đại có quyền làm điều đó, nhưng ông không muốn phải giết người đồng bào của mình. Ngay cả Thủ Tướng Trần Trọng Kim và “Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại đã không cho Bảo an binh bắn vào đoàn biểu tình và cũng không yêu cầu quân Nhật can thiệp”(BBC Tiếng Việt). Nói cách khác, ông không muốn mượn tay người nước ngoài để giết người Việt.

Đó chính là lần cướp chánh quyền lần thứ nhứt trước khi cướp chánh quyền lần thứ hai là ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Mời quý vị nghe ký giả Huỳnh Quốc Huy trình bày thêm ở video sau đây:

Kết luận, ngày cách mạng tháng 8 mà Cộng Sản Việt Nam tuyên truyền là đã chiến thắng trong việc giành tự do và độc lập cho dân Việt là hoàn toàn dối trá. Thực chất đây là một cuộc cướp chánh quyền. Việt Nam đã được độc lập trước khi Việt Minh vào cướp chánh quyền Trần Trọng Kim. Việt Nam đã độc lập trước đó rồi thì cái việc Việt Minh đã giành độc lập là hoàn toàn không có giá trị. Chúng tôi đã độc lập mà các anh ngang nhiên lá cờ và tuyên bố Việt Nam đã độc lập là các anh đang cướp chánh quyền rồi! Không ai mượn các anh để mà “giải phóng dân tộc” cả.

Đây là sự thật lịch sử của cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám. Xin các phụ huynh nào có con em đi học hãy cho chúng đọc bài viết về sự thật lịch sử. Lịch sử mà chúng học trong trường hoàn toàn là dối trá, không có cái nào là sự thật hoàn chỉnh cả. Đặc biệt là các bạn trẻ, các bạn có đầu óc, có tư duy và có khả năng tự tìm hiểu trên Internet. Lịch sử là đa chiều chứ không phải là một chiều. Khi bạn học lịch sử thì các bạn phải tự tìm hiểu ở nhà như là đọc thêm sách hoặc là những nguồn tài liệu ở Intenet mà bạn không thể tìm thấy ở sách giáo khoa hay sách báo của cộng sản phê duyệt. Điều này giúp cho các bạn có tư duy phản biện và nhìn nhận đúng sai. Nếu các bạn không có kỹ năng này thì các bạn cũng sẽ bị biến thành những con bò đỏ bị nhồi sọ mà thôi. Hãy đọc bài viết này để tham khảo thêm lời tôi nói:

Nguồn:

  1. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam: http://huyenuy.namtramy.quangnam.gov.vn/Default.aspx?tabid=1292&Group=219&NID=4395&cach-mang-thang-tam-nam-1945–su-kien-vi-dai-trong-lich-su-dan-toc-viet-nam
  2. Sự thành lập chính phủ Trần Trọng Kim, 1945: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3097/19449/su-thanh-lap-chinh-phu-tran-trong-kim-1945.html
  3. Nội các Trần Trọng Kim: 5 thành tựu trong 4 tháng: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-40433411
Categories
Quan Điểm Chính Trị

MỘT VỊ TỔNG THỐNG ĐÁNG KÍNH, XỨNG ĐÁNG TRONG LÒNG DÂN TỘC VIỆT

Tôi là người của Phật giáo, qua nhiều tư liệu tôi đã tìm hiểu rất kỹ về Ngài, không như lối tuyên truyền nhồi sọ của cs. Ngài mới là vị Tổng thống đáng kính trong lòng của dân tộc. Mỗi lần có dịp đi qua con kênh mang tên ngài, những khu dân cư của đồng bào ngoài bắc tỵ nạn cs vào như kênh như G, Kênh H, lòng tôi bâng khuâng ngậm ngùi nhớ đến số phận hẩm hiu của Ngài, những công trình gắn liền với tên tuổi Ngài phải nói là vĩ đại thời kỳ đó, nhờ đó mà rửa phèn cho vùng chua phèn tứ giác Long Xuyên hình thành nên cánh những đồng xanh mát, thu hút dân cư đến khai hoang lập nghiệp, mà sau này ông Võ Văn Kiệt kế thừa, hình thành thêm các công trình như T4, T5 (điều mà cs muốn là xóa sạch dấu vết của Ngài nhưng không làm được vì nó đã in sâu trong tâm lòng của dân chúng vì đã yêu mến Ngài). Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn nợ Ngài hai từ là “xin lỗi” lịch sử rồi đây sẽ trả lại công bằng cho Ngài, tương xứng với những gì Ngài đã cống hiến.

Nhiều lần muốn viết một bài thật sâu sắc về Ngài với nền đệ nhất cộng hòa, nhưng không có thời gian. Nay đọc được bài này gần với ý định của mình nên mình xin chia sẻ với các bạn biết về một thời đất nước ta cũng đã có nhơn tài thật sự trí thức trong sáng vì nước vì dân.

Có thể bạn chưa biết?

Khi được tin hai anh em Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm bị thảm sát, tổng thống Đài Loan Tưởng Giới Thạch đã thốt lên:

“Cả 100 năm nữa Việt Nam mới có Ngô Đình Diệm thứ hai. Biết đến bao giờ Việt Nam mới sản sinh ra được Ngô Đình Nhu thứ hai! Ông ta là Khổng Minh của Việt Nam.”

Hồ Chí Minh mời Ông Ngô Đình Diệm làmThủ tướng chính phủ nhưng ông từ chối vì ông không chấp nhận chung xuồng với bọn Cộng Sản Việt Gian bán nước làm tay sai cho Tàu . Thực tế Hồ Chí Minh cũng đã xem ông Diệm là một “người ái quốc” và nhắn gửi với nhà ngoại giao Ấn Độ Goburdhun rằng:

“Hãy bắt tay ông ấy giùm tôi nếu như ngài gặp ông ấy”.

Ngày 26 tháng 10 1956 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm long trọng tuyên bố tại Dinh Độc Lập chính thức thành lập Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa, và chính thức là vị Tổng Thống đầu tiên của thể chế Dân Chủ .

Hai tháng sau Tổng Thống yêu cầu Pháp rút hết quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam, Tổng Thống cũng tuyên bố không thi hành tuyển cử theo Hiệp định Geneve, như đã định vào ngày 20 tháng 12 năm 1956.

Đồng thời ban hành HIẾN PHÁP gồm có 10 Thiên:

– Thiên thứ Nhất : Điều khoản căn bản

– Thiên thứ Hai : Quyền lợi và Nhiệm vụ người Dân

– Thiên thứ Ba : Tổng Thống

– Thiên thứ Tư : Quốc Hội (gồm 4 Chương)

– Thiên thứ Năm : Thẩm Phán

– Thiên thứ Sáu : Đặc biệt Pháp Viện

– Thiên thứ Bảy : Hội đồng Kinh Tế Quốc Gia

– Thiên thứ Tám : Viện Bảo Hiến

– Thiên thứ Chín : Sửa đổi Hiến Pháp

– Thiên thứ Mười : Các điều khoản chung

Và thành lập Nội Các trong đó có 18 Bộ Trưởng gồm 5 Bộ là người Công Giáo, 8 Bộ người Phật Giáo và 5 Bộ thuộc Khổng Giáo.

Trong 38 vị tỉnh trưởng thì có đến 26 vị tỉnh trưởng Phật Giáo chỉ có 12 vị thuộc Công Giáo, còn tướng lãnh thì có 16 tướng lãnh thuộc các tôn giáo khác chỉ có 3 tướng thuộc Công Giáo.

Ngay Chánh Văn Phòng của Tổng Thống là ông Võ Văn Hải, người Phật Giáo và Chánh Văn Phòng của Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu là Trung Tá Phạm Thư Đường cũng là người Phật Giáo. Tổng Thống không bao giờ có đầu óc kỳ thị, phân chia Nam – Bắc, Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, người miền Nam và các Bộ Trưởng như Trần Văn Hương, Bùi văn Thinh, Phan Khắc Sửu đều là người miền Nam đã cùng làm việc với Tổng Thống ngay từ lúc ở ngoại quốc về.

Các Tướng như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Là đều là người gốc Miền Nam. Và những Bộ Trưởng người miền Trung gồm có ông Trương Công Cừu giữ Bộ Văn Hóa Xã Hội, ông Nguyễn Quang Trình giữ Bộ Giáo Dục, và Bộ Trưởng người miền Bắc có ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Quốc Phòng, ông Nguyễn Lương, Bộ Tài Chính, ông Trần Lê Quang, Bộ Cải Tiến Nông Thôn.

Về phần tướng lãnh độc nhất có Tướng Phạm Xuân Chiểu người niềm Bắc, còn 5 tướng người miền Trung gốm có: Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Tôn Thất Đính, Thái Quang Hoàng, Huỳnh văn Cao và Lê Văn Nghiêm.

Thành tích phát triển của Chính Phủ VNCH

A – CHÍNH TRỊ:

Xây dựng chủ thuyết Nhân vị để chống lại thuyết Tam Vô của Cộng Sản. Thành lập Chính thể Cộng Hòa tháng 10-1955.

– Tổ chức Quốc Hội Lập Hiến, ban hành Hiến Pháp đầu tiên cho Việt Nam vào tháng 10–1955.

– Thống nhất tổ chức hành chánh từ Trung Ương đến hạ tầng cơ sở.

B – KINH TẾ:

Vấn đề thương mãi quốc ngoại, quốc nôi đã phát triển quá nhanh nên mức sống dân chúng khá cao. Tại thôn quê vấn đề Nông nghiệp được Cơ Giới hóa, được tài trợ tiền bạc, phân bón, hạt giống cho nên thường xuyên được mùa nên đời sống nông dân cũng được cải thiện nâng cao mức sống, nên dù các quân nhân, dù là cấp nhỏ nhất, binh nhì thì tiền lương cũng đủ cấp dưỡng vợ con, là lại được cấp nhà trong trại gia binh nên cũng đủ sống.

– Thành lập khu kỹ nghệ: Thủ Đức, An Hòa, Nông Sơn, nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thủy điện Đa Nhim, nhà máy sản xuất vải sợi Vinatexco Đà Nẵng, Vimytex Sài Gòn, Nhà máy thủy tinh, mỏ than Nông Sơn .v . v

– Mặc dù bị chiến tranh, nhưng VN vẫn xuất cảng gạo, và cao su.

– Năm 1960, VN xuất cảng 192.158 tấn gạo, chưa kể đến số cao su, than đá, hải sản và đồ . tiểu công nghệ

– Lập Ủy Ban Cải Cách Điền Địa mua ruộng của các điền chủ để phân phối cho nông dân.

– Định cư cho gần 1 Triệu đồng bào từ Bắc vô Nam tránh nạn Cộng Sản.

C – QUÂN SỰ:

Sát nhập các lực lượng vũ trang của các Giáo phái và các Lực lượng quân sự địa phương để thông nhất Lực Lượng Quân Đội Quốc Gia.

Sửa đổi chương trình đào tạo sĩ quan Đà Lạt, muốn thi vô Đà Lạt sinh viên phải có bằng Tú Tài toàn phần và chương trình học là 4 năm, trường Sĩ Quan Trừ Bị THỦ ĐỨC cũng thay đổi chương trình cho thích hợp về chuyên nghiệp, các trường Hạ Sĩ Quan cũng chú trọng về Văn Hóa.

– Thành lập trường Đại Học Quân Sự và Cao Đẳng Quốc Phòng.

– Cải tiến các Trung tâm Kỹ Thuật, nâng cao số sinh viên từ 365 lên 625/năm.

– Thiết lập các trường Đại Học HUẾ, Đại Học Sư Phạm Sài Gòn.

– Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn.

– Truòng Sinh Ngữ Quân Đội

– Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ

– Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ

– Trường Bưu Điện Quốc Gia

– Trường Thương Mại Quốc Gia

– Trường Sư Phạm và Kỹ Thuật Vĩnh Long

– Nguyên Tử Lực Cuộc, Đà Lạt

– Thư Viện Trung Ương và Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam

– Viện Hán Học

– Trung Tâm Khảo Cứu Khoa Học

– Câu Lạc Bộ Văn Hóa

D – XÃ HỘI:

– Ngày 15 tháng 2 năm 1955, ông Diệm ra lệnh đóng cửa sòng bạc Kim Chung Đại Thế Giới của Bảy Viễn. Mở chiến dịch bài trừ tứ đổ tường, đặc biệt là nha phiến, mãi dâm, du đảng và cờ bạc.

– Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Tổng Thống tổ chức trưng cầu dân ý, truất phế vua Bảo Đại.

– Ngày 1 tháng 12 năm 1955, ông Diệm ra lệnh đóng cửa xóm Bình Khang, nơi buôn bán mãi dâm công khai do ông Bảy Viễn để lại, đồng thời ra lệnh cấm hút và cấm buôn bán thuốc phiện để lành mạnh hóa nhân dân miền Nam. Một chiến dịch đốt bàn đèn hấp dẫn vừa để làm gương cho dân chúng vừa để làm cho người ngoại quốc kính nể chế độ VNCH.

Năm 1957, nhân một chuyến đi dạo quanh đô thành, Tổng Thống Diệm đi qua bến Bạch Đằng… ông nổi giận đùng đùng vì cảnh bến sông thật là “bê bối”… hàng quán san sát, chiêu đãi viên cùng thực khách đùa giỡn lả lơi, ông Diệm sau đó chỉ thị cho giới chức đô thành phải giải tỏa ngay, Tổng Thống cho rằng thủ đô là tiêu biểu cho thể thống quốc gia để cho hàng quán tùm lum ở bến sông, ở hè phố như vậy thì còn gì là thể thống. Theo quyết định của Tổng Thống, Đô Trưởng Sài Gòn khẩn cấp ra lệnh giải tỏa. Hàng ba trăm bạn hàng dọc theo bờ sông bến Bạch Đằng và một số nơi khác ở các vỉa hè lớn bị giải tỏa.

Khoảng năm 1959 Tổng Thống đi xe từ trại Quang Trung về đến ngã ba Chú Ía (gần nhà thương Cộng Hòa) thì có cả mấy chục cô gái giang hồ phấn son lòe loẹt dừng bên đường vẫy tay cười nói, Tổng Thống mặt đỏ bừng bừng: “Mấy con mụ đó nó làm chi mà dị hợm rứa”. Viên sĩ quan tùy viên cứ ngay tình nói thẳng: “Bẩm, mấy đứa nó là gái giang hồ, vùng này nhiều lắm”. Tổng Thống lại hầm hầm mặt đỏ gay: “Thằng Tỉnh Trưởng nó làm chi đó hỉ?…”.

Khi trở về dinh, ông Diệm cho gọi Đại Uý Bằng đến hỏi kỹ về chuyện này. Sau đó ông bảo Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành, Tỉnh Trưởng Gia Định và Trung Tá Cao Văn Viên, phải thân hành lấy xe đi một vòng kiểm soát xem thực hư thế nào. Các viên chức trở về Dinh đều xác nhận là có nhiều gái giang hồ tại mấy vùng ngoại ô như Lăng Cha Cả, vùng nhà thương Cộng hòa.

Ông Giám Đốc Cảnh sát Đô thành (Trần văn Tư) phải một phen xanh mặt. Mấy hôm sau, Tổng Thống Diệm ra lệnh bãi chức một loạt Cảnh Sát Trưởng thuộc Đô Thành và Trưởng Ty Cảnh sát Gia Định.

– Lập nhiều Cô Nhi Viện, yểm trợ các Trại Cùi, các Trung Tâm Y Tế Công Cộng, các Trung Tâm Sinh Hoạt và giáo dục các người tật nguyền.

– Lập các quán cơm xã hội giúp cho người lao động và học sinh có chỗ ăn uống vừa túi tiền.

E – NGOẠI GIAO:

– Gia nhập Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc được 40 phiếu thuận 8 phiếu chống.

– Việt Nam được 80 Quốc gia trên Thế giới công nhận

– Việc Nam là Hội viên Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

– Ký kết thỏa ước với Pháp hợp tác về Nguyên Tử Lực phụng sự hòa bình

– Khai mạc Hội Nghị Kế hoạch COLOMBO gồm có các nước:

Miến Điện , Thái Lan, Ấn Độ và Hồi Quốc.

– Phê chuẩn Hiệp Ước thân thiện Việt Nam và Phi Luật Tân

– Hội nghị Quốc Tế về lúa gạo tại Sài Gòn.

– Ký thỏa ước Nhật bồi thường chiến tranh và vay tiền Nhật

– Ký thỏa ước Việt Nam và Đức Quốc về viện trợ kỹ thuật.

(Minh anh jessica)

Nguồn Lê Minh Khôi

Categories
Quan Điểm Chính Trị

Câu chuyện: Chuyến đi thăm Việt Nam của tôi đã khẳng định lòng căm thù của tôi đối với chủ nghĩa cộng sản

Đây là lời kể của Nhà báo Dennis Prager bày tỏ cảm xúc của ông sau khi thăm Việt Nam

Mười năm trước, tôi đã viết một chuyên mục phản ánh về những cảm xúc của tôi khi đến thăm Việt Nam. Với sự coi thường, thậm chí đùa cợt với chủ nghĩa cộng sản (hoặc với cách gọi mỹ miều là chủ nghĩa xã hội) trong giới trẻ Hoa Kỳ thì rất đáng phải xem xét lại.

Thật khó mà kiểm soát cảm xúc của tôi — cụ thể là sự tức giận—trong chuyến thăm Việt Nam của tôi. Tôi càng ngưỡng mộ những người Việt Nam — về trí thông minh, tình yêu cuộc sống, phẩm giá, và sự chăm chỉ — thì tôi càng cảm thấy phẫn nộ hơn đối với những gì mà cộng sản đã mang đến cho họ (và tất nhiên, kể cả người Mỹ chúng tôi) rất nhiều đau khổ trong nửa cuối của thế kỷ 20.

Đáng tiếc thay là những tên cộng sản vẫn còn cai trị đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam đã chấp nhận con đường duy nhất đó là tồn tại để thoát khỏi đói nghèo, chứ chưa nói đến tạo nên sự thịnh vượng: chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do. Như vậy thì chính xác 2 triệu người Việt Nam đã chết trong chiến tranh Việt Nam vì điều gì?

Tôi muốn đặt câu hỏi đó với một số nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. “Thưa đồng chí, đồng chí đã từ bỏ mọi thứ mà Đảng Cộng sản của mình đại diện cho: tài sản công, nông nghiệp tập thể hóa, kế hoạch hóa tập trung, và chủ nghĩa quân phiệt, cùng những thứ khác. Vậy thì hãy nhìn lại một cách chính xác coi Hồ Chí Minh kính yêu và đảng của các người đã hy sinh hàng triệu đồng bào Việt Nam của mình vì điều gì? ”

Thật ra không có câu trả lời nào thỏa đáng. Chỉ có sự dối trá và sự thật, và sự thật đó chẳng tốt lành gì.

Lời dối trá là phản ứng của những tên cộng sản Việt Nam, được lặp đi lặp lại bởi cánh tả phi cộng sản trên thế giới, được giảng dạy (cho đến ngày nay) trong hầu hết mọi trường đại học phương Tây, và được lan truyền trên hầu hết mọi phương tiện thông tin trên địa cầu: Cộng sản Việt Nam, tức là chế độ Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam (MTGPMNVN), chỉ đơn thuần là đấu tranh giành độc lập dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc, tức là sự kiểm soát của nước ngoài đối với quốc gia của họ.

Đầu tiên, họ chiến đấu với người Nhật, sau đó là người Pháp, và sau đó là người Mỹ. Thế hệ của Mỹ thời “Bùng Nổ Trẻ Sơ Sinh” sẽ nhớ cái thứ được kể đi kể lại rằng Hồ Chí Minh là George Washington của Việt Nam, rằng ông ta yêu Hiến pháp Hoa Kỳ mà theo đó, ông ta đã tự nắn đúc thành cái của mình, và ông không muốn gì hơn là nền độc lập của Việt Nam.

Đây chính là sự thật: Mọi nhà độc tài cộng sản đều là một tên côn đồ cuồng bạo, sùng bái cá tính, đói quyền lực và khát máu.

Hồ Chí Minh cũng không khác gì. Ông ta đã thủ tiêu đối lập và chỉ có Thượng Đế mới biết ông ta đã sát hại và tra tấn bao nhiêu người Việt Nam vô tội (chôn sống nông dân là một phương pháp được ưa chuộng), để hù dọa hàng triệu nông dân để chiến đấu cho ông ta — vâng đúng vậy, chính là cho ông ta và Đảng Cộng sản Việt Nam đẫm máu của ông ta, được hậu thuẫn bởi kẻ sát nhân khét tiếng nhất mọi thời đại, Mao Trạch Đông .

Nhưng những kẻ đần độn đạo đức giả ở Mỹ đã hô vang “Ho, Ho, Ho Chi Minh” trong các cuộc tập họp phản chiến và miêu tả Mỹ là kẻ sát nhân thực sự của người Việt Nam— “Này, này, LBJ: Hôm nay ông đã giết bao nhiêu trẻ em vậy hả?”

Cộng sản Việt Nam không đánh Mỹ để giành độc lập cho Việt Nam. Mỹ không bao giờ quan tâm đến việc kiểm soát người dân Việt Nam, và có một sự song hành hoàn hảo để chứng minh điều này: Chiến tranh Triều Tiên.

Mỹ có đánh cộng sản Triều Tiên để kiểm soát Triều Tiên không? Hay 37.000 người Mỹ đã chết ở Đại Hàn để người Hàn được tự do? Ai đã (và vẫn còn) làmột con người tự do hơn – một người Hàn sống dưới sự cai trị của cộng sản Triều Tiên ở Bắc Hàn hay một người Hàn sống ở khu vực đó của Đại Hàn nơi Mỹ đã đánh bại cộng sản Triều Tiên?

Và ai là một con người tự do hơn ở Việt Nam – những người sống ở miền Nam Việt Nam không cộng sản (nhưng độc tài) hay những người sống dưới chế độ cộng sản của Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh ở miền Bắc Việt Nam?

Mỹ đã chiến đấu để giải phóng các nước chứ không phải để thống trị họ. Chính Đảng Cộng sản Việt Nam (và Trung Quốc), chứ không phải Mỹ, đã quan tâm đến việc kiểm soát người dân Việt Nam.

Nhưng lời dối trá đó lại được lan truyền rộng rãi và hiệu quả đến nỗi hầu hết thế giới — ngoại trừ những người ủng hộ nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam, những thuyền nhân Việt Nam và những người Việt Nam khao khát tự do — tin rằng Hoa Kỳ đang chiến đấu vì tiền bạc, vonfram và “đế quốc Mỹ” hư cấu, trong khi những người cộng sản Việt Nam đang chiến đấu cho tự do Việt Nam.

Tôi đến “Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh Việt Nam”, ảnh triển lãm ba tầng thời chống Mỹ của Đảng Cộng sản. Không có gì làm tôi ngạc nhiên cả—không phải việc thiếu sự thật về cộng sản Bắc Việt hay Việt Cộng; không có lời nào về những mối đe dọa lan rộng đối với cuộc sống của bất kỳ ai không chiến đấu cho cộng sản; không có lời nào về những người liều mình trốn thoát bằng thuyền, liều mạng mà chết đuối, bị cá mập ăn thịt, bị hải tặc tra tấn hay hãm hiếp tập thể hơn là sống dưới tay những người cộng sản đã “giải phóng” miền Nam Việt Nam.

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên là có rất ít sự khác biệt giữa lịch sử Chiến tranh Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam kể và những gì mà bất kỳ sinh viên đại học nào sẽ được kể ở bất kỳ trường đại học nào bởi bất kỳ giáo sư nào ở Mỹ, Châu Âu, Châu Á, hoặc Châu Mỹ Latinh.

Tôi sẽ kết thúc với chủ đề mà tôi đã bắt đầu — Người Việt Nam

Không thể không được gây ấn tượng bởi người dân khi tôi thăm Việt Nam. Tôi hy vọng tôi còn sẽ sống để nhìn thấy ngày mà người dân Việt Nam, được giải phóng khỏi sự dối trá của cộng sản vẫn còn tràn ngập trong cuộc sống hàng ngày của họ, nên hiểu rằng mỗi người Việt Nam chết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là lãng phí đi một sinh mạng, một trong hơn 100 triệu con người hy sinh trên bàn thờ của một ý thức hệ khát máu nhất trong lịch sử: chủ nghĩa cộng sản.

Hãy chia sẻ điều này với con trai hoặc con gái của bạn, những người không biết gì về chủ nghĩa cộng sản và không biết tại sao những người đàng hoàng lại ghét nó, cùng với chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Quốc xã.

Ông Dennis Prager

Dennis Prager là người phụ trách chuyên mục của The Daily Signal, người dẫn chương trình phát thanh tổng hợp trên toàn quốc và là người tạo ra PragerU.

Nguồn: https://www.dailysignal.com/2021/02/02/trip-to-vietnam-reconfirmed-my-hatred-of-communism/

Categories
Chia Sẻ Kinh Nghiệm Viết Đúng - Nói Hay Tiếng Việt

Bảng đối chiếu từ ngữ của Việt Cộng và Việt Nam

Lưu ý! Hãy cho Phổ Biến Khắp Nơi Rộng Rãi. (bc)
HƯƠNG saigon


Kính thưa quý vị,


Hương Saigòn (HSG) đồng ý và hoan nghinh sự cổ võ của Ông Trần Văn Giang về nỗ lực bảo tồn tiếng Việt truyền thống trước sự băng hoại mà Việt cộng đang gây ra cho nền văn hoá nước ta bằng chính sách ngu dân cũng như sự dốt nát cố hữu của tập đòan cộng sản Việt Nam.


Trong khuôn khổ của một email, và vì thời giờ hạn hẹp, ở đây HSG xin miễn diện dẫn sự xuống dốc của nền văn hoá và giáo dục hiện tại của Viêt Nam dưới ách toàn trị của cộng sản tham tàn. Tuy nhiên, quý vị có thể tìm thấy những bằng chứng về sự băng hoại nầy trên internet cũng như những email trước đây trên diễn đàn nầy.


Việc bảo tồn tiếng Việt truyền thống là một vấn đề hoàn toàn có tính cách văn hoá mà những ai thiết tha với quê hương, dân tộc đều có nhiệm vụ phải thi hành. Chúng ta, những người yêu nước thương nòi, đều có bổn phận duy trì tiếng Việt trong sáng và phong phú của dân Việt, bỡi lẽ cộng sản Việt Nam, vì ngang ngược và dốt nát, đang nhồi vào đầu óc non nớt của trẻ em và quần chúng Việt Nam cách dùng chữ sai lệch tối nghĩa, ghép ráp bừa bãi, kỳ dị và sai văn phạm, làm mất vẻ đẹp và sự trong sáng của ngôn ngữ nước ta.


Một sự kiện rất nguy hiễm cho nền văn học Việt Nam là hiện nay có một số người (ngay cả một số ký giả người Việt) ở hải ngoại không còn phân biệt được giữa từ ngữ truyền thống trong sáng của VN và từ ngữ sai lệch và quái gở của Việt cộng. Sự tắc trách nầy của một số trí thức VN ở hải ngoại là mối lo âu lớn của cộng đồng người Việt Quốc Gia.


Kính thưa quý vị,


HSG xin chứng minh cái sai lệch của từ ngữ Việt cộng với những thí dụ điển hình sau đây:


(1) Sai văn phạm:


Thí dụ:
– Việt cộng nói : “Tôi đã liên hệ cô Lan”. Câu nầy rõ ràng là sai văn phạm vì trong tiếng Việt truyền thống “liên hệ” là tỉnh từ như trong câu : “Hãy thông báo cho những người liên hệ” . Rõ ràng chữ “liên hệ” không thể dùng làm động từ như trong câu “Tôi đã liên hệ với cô Lan”. Nói đúng tiếng Việt, ta phải nói : “Tôi đã liên lạc với cô Lan”.


– Một thí dụ khác về cách nói sai văn phạm của Việt cộng: “Các anh phải lao động tốt”. Câu nầy hoàn toàn sai văn phạm vì “lao động” là tỉnh từ (dân lao động, giới lao động) nên không thể dùng làm động từ. Cái sai văn phạm thứ hai của câu trên là : “tốt” là tỉnh từ (như tánh tốt , phong tục tốt) nên cũng không thể dùng như trạng từ. Do đó, thay vì nói: “Các anh phải lao động tốt” (sai), người Việt có học phải nói: “Các anh phải làm việc giỏi”.


– Nếu có thì giờ, quý vị có thể đọc báo cộng sản hay nghe chương trình Đọc Báo Vẹm trên Youtube để thấy cách viết sai văn phạm của Việt cộng.


(2) Cách dùng chử ngô nghê, quê mùa và dốt nát.


Thí dụ :
– Việt cộng dùng chữ “tờ rơi” thay vì “tờ truyền đơn” hoặc “bóng đá” thay vì “bóng tròn” (bóng đá cũng sai văn phạm vì “đá” là động từ, trong khi đó “tròn” là tỉnh từ. Vì tỉnh từ dùng để bổ nghĩa cho danh từ, từ ngữ “bóng tròn” là đúng, “bóng đá” là sai. (Bóng Đá ?!?! Không lẽ cả hai đội cầu thủ lừng danh ra thi đấu trên sân cỏ mà chỉ dành nhau một cái “Bóng” ?!?! Đúng là câu nói Tối Nghĩa chứ không làm sáng lạng chữ nghĩa Việt Nam chi cả)


– Việt cộng dùng chữ “siêu sao” thay vì “minh tinh” để nói về một tài tử xuất sắc.Từ ngữ “siêu sao” là một lối gán-ghép chữ nghĩa lai căng, pha trộn tiếng nho với tiếng nôm. Trong khi đó từ ngữ chính thống là “minh tinh” diễn tả một cách chính xác một tài tử xuất sắc (một ngôi sao sáng trên sân khấu)


– Ngô nghê hơn nửa, Việt cộng gọi một tên cướp hạng nặng bằng “siêu cướp” !!! (lại cũng sai văn phạm vì “siêu” là tỉnh từ và “cướp” là động từ. Rõ ràng, trong văn phạm động từ không được dùng để bổ nghĩa cho tỉnh từ. Tiếng Việt truyền thống có danh từ kép “siêu nhân” (một nhân vật siêu phàm). Ở đây tỉnh từ “siêu” bổ nghĩa cho danh từ nhân. Cha Ông của chúng ta không bao giờ nói “siêu ăn” , “siêu uống” hoặc “siêu trộm” hay “siêu cướp”!


(3) Cách dùng chữ ngô nghê, vô nghĩa và trơ trẽn.


Thí dụ:
– Việt cộng nói: “Giải phóng mặt bằng” thay vì nói : “San bằng nhà cửa”. Cả hai chữ “giải phóng” và “mặt bằng” ở đây đều vô nghĩa. Chữ giải phóng thường dùng cho người như “giải phóng nô lệ” chứ không ai nói giải phóng nhà cửa hay giải phóng cây cối . Còn “mặt bằng”, nếu có nghĩa là nhà cửa thì thật là “hết ý” của Đỉnh Cao Trí Tệ Đần Cố Nông!


Kính thưa quý vị,


Nếu có thì giờ, chúng ta có thể đưa thêm nhiều cái sai của ngôn ngữ Việt cộng. Tuy nhiên, HSG hy vọng rằng những thí dụ đơn sơ trên đây nói lên được phần nào cái băng hoại của tiếng nước ta dưới chế độ ngu dân của CSVN.


Có những người cho rằng chúng tôi, những người chống ngôn ngữ Việt cộng, là quá khích. Thậm chí, có những người cho rằng chúng tôi hủ lậu không chấp nhận “ngôn(g) ngữ hiện đại” VN. (Hiện-Đại = Hại-Điện)


Thưa quý vị, “hiện đại” thường để diễn tả sự tiến bộ trong cách nghành kỹ thuât và truyền thông . Tuy nhiên “ngôn(g) ngữ hiện đại” dưới chế độ cộng sản VN là một thoái bộ trầm trọng của tiếng nước ta!


Đêm đã khuya, HSG xin dừng bút nới đây và hẹn sẽ tiếp tục khi có thì giờ.


Kính
Hương Sàigòn


P.S. Mời quý vị đọc đoạn văn dưới đây trích từ báo Quân Đội Nhân Dân của Việt cộng mà ngậm ngùi cho TIẾNG NƯỚC TÔI.
o-0-o


QĐND (Quân Đạp Nhân Dân)
– Sáng 7-7, Báo Quân đội nhân dân đã trọng thể tổ chức kỷ niệm 20 năm ngày Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần (một trong 4 ấn phẩm thuộc Báo Quân đội nhân dân) ra số đầu tiên (7-7-1990/7-7-2010). Tới dự có hơn 100 đại biểu, đại diện cho đông đảo thế hệ cán bộ, biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, lãnh đạo một số cơ quan báo chí trong và ngoài quân đội.
………………………


Báo đã định hình nhiều chuyên mục bổ ích, mang hàm lượng tri thức và giải trí cao, khẳng định được vị thế và bản sắc trong “làng báo cuối tuần” cả nước với một số trang mục đặc sắc như: Sự việc – suy ngẫm, Chân dung người lính, Văn hóa – xã hội, Sáng tác – Phê bình Văn học, Gặp gỡ – Phỏng vấn, Câu lạc bộ chiến sĩ, Thể thao, Quốc tế…


Tại lễ kỷ niệm, nhiều ý kiến phát biểu mong muốn và kiến nghị thời gian tới, Báo tiếp tục đổi mới, khắc phục một số hạn chế, tăng hàm lượng tri thức, chất Quân đội nhân dân Cuối tuần lượng nội dung và hình thức, phản ánh sâu sắc và sinh động hơn đời sống LLVT và xã hội dưới góc độ văn hóa – nghệ thuật; tăng nhuận bút và số lượng phát hành rộng rãi hơn nữa trong toàn quân và cả nước; trở thành tờ báo VHVN hàng đầu của LLVT và nhân dân…


NGUYÊN MINH


(Đọc xong tôi phải chạy đi tìm cuốn Tự-Điển Việt Nam để tra chữ nghĩa. Thật không ngờ, xem qua lối viết văn của Vịt + ngày nay tôi mới biết tiếng Việt của mình còn “dở quá”. Thế mới biết Ngôn(g)-Ngữ của Đỉnh Cao Trí Tệ Đần Cố Nông ngày nay “Siêu Cực Nâng Cao” ra sao)
= = = = = = = = = = =


– Bảng đối chiếu từ ngữ của Việt Cộng và Việt Nam
Lời người giới thiệu:


-Có những từ ngữ của miền Nam và miền Bắc trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 viết và cách dùng giống nhau; nhưng đồng thời cũng có rất nhiều chữ viết giống y như nhau nhưng ý nghĩa (hoàn toàn khác biệt) dễ dàng gây “hoang mang” (confused) nếu người đọc (hoặc người nghe) không biết trước.


-Ở Việt Nam sau 1975, vì nhiều lý do, một số từ ngữ của miền Nam (VNCH) đã bị thay thế hẳn. Tuy nhiên văn hóa và truyền thông của cộng đồng người Việt tị nạn CS ở hải ngoại vẫn tiếp tục duy trì các từ ngữ của VNCH.


-Đã có một số tác giả hiện đang sống ở hải ngoại viết về vấn đề gọi là “cái chết của ngôn ngữ Sài gòn cũ.” Cá nhân tôi không đồng ý với quan điểm là tiếng Sài Gòn cũ (VNCH) đã hoặc sẽ chết. Thực tế cho thấy dân số tị nạn CS tại hải ngọai gần 3 triệu người hàng ngày vẫn dùng và bảo tồn chữ Sài gòn cũ trong gia đình, trong các buổi thánh lễ ở nhà thờ, trong kinh sách vào những buổi lễ thuyết pháp Phật giáo, trong các sinh họat thiếu nhi thánh thể cũng như gia đình phật tử… Hiển nhiên chữ Sài Gòn cũ luôn luôn có sẵn và không hề thiếu thì hà cớ gì chúng ta phải dùng đến chữ của Vi-Ci (VC) (riêng sự việc người dân Việt đang sống trong trong nước phải dùng từ ngữ CS trong mọi liên lạc, văn hóa là chuyện cũng dể hiểu thôi…)


-Người Do thái sau khi tan hàng ở Palestine vì có thể bị diệt chủng (bởi áp lực của Hồi giáo và dân Ả rập) cả chục thế kỷ rồi. Họ cũng sống lưu vong khắp nơi trên thế giới giống như dân Việt tị nạn CS; Vậy mà khi vừa mới tái lập quốc gia Do thái ở khoảng năm 1950 là họ đã khai sinh ngay trở lại một tử ngữ (dead language) của họ, tiếng Hebrew, thành một sinh ngữ (living language). Với cái đà xuống dốc tệ hại của chủ nghĩa CS hiện nay ở Việt Nam thì cơ hội phục hưng của người quốc gia và sự trở lại tiếng Sài Gòn cũ không phải chỉ có trong ước mơ. Bây giờ chúng ta cứ vô tình dùng chữ ngây ngô của VC thi chẳng khác gì như vô hình dung chúng ta chấp nhận CS (tương tự như trang điện báo của đảng CSVN hoan hỉ phổ biến sự thao dượt hải quân của Trung cộng trên quần đảo trường sa và Hoàng sa của Việt Nam).


-Tôi cố gắng thu góp lại, từ nhiều bài viết của nhiều tác gỉa và từ kinh nghiệm cá nhân, một số từ ngữ (của VC và VNCH) thuộc lọai “dễ dàng gây hoang mang” này và tạm xếp vào một bảng đối chiếu dưới đây để quí vị rộng đường tham khảo; tùy ý sử dụng; và để may ra giúp quí vị tránh các trường hợp đáng tiếc (bị đồng bào chung quanh hiểu lầm “địa chỉ” của mình).


T.V.G.


o=0=o


Sau đây là Bản Đối Chiếu

TỪ NGỮ VC…………………………………………………….. & TỪ NGỮ VNCH


Ấn tượng………………………………………………………… = Đáng ghi nhớ, đáng nhớ


Bác sỹ / Ca sỹ…………………………………………………… = Bác sĩ / Ca sĩ
Bang………………………………………………………………. = Tiểu bang (State) (Vịt + nói chuyện trơ trẽn)
Bắc bộ / Trung bộ / Nam bộ…………………………………. = Bắc phần / Trung phần / Nam phần
Báo cáo…………………………………………………………… = Thưa trình, nói, kể
Bảo quản………………………………………………………… = Che chở, giữ gìn, bảo vệ
Bài nói……………………………………………………………. = Diễn văn


Bảo hiểm (mũ bảo hiểm)…………………………………….. = An toàn (mũ an toàn, nhưng trong MN thì đa số ai cũng nói là Nón an toàn)
(Safety Hats mà Vịt + dịch là Mũ Bảo Hiểm thì tôi cũng Hết ý!)


Bèo…………………………………………………………………. = Rẻ (tiền)


Bí kíp………………………………………………………………. = Bí quyết. Một điều gì đó bí mật…

Bị đẹp……………………………………………………………… = (Không dùng động từ “bị;” chỉ dùng tĩnh từ (đẹp)


Bồi dưỡng (hối lộ?)…………………………………………….. = Nghỉ ngơi, tẩm bổ, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ


Bóng đá………………………………………………………….. = Đá Banh, Túc cầu
(Cái bóng mà đá được mình thì chỉ có ở XHCN VN)


Bức xúc………………………………………………………….. = Dồn nén, bực tức
Bất ngờ…………………………………………………………… = Ngạc nhiên (surprised)
Bổ sung………………………………………………………….. = Thêm, bổ túc


Cách ly…………………………………………………………… = Cô lập
Cảnh báo……………………………………………………….. = Khuyến Cáo, Báo động, phải chú ý
Cái A-lô…………………………………………………………… = Cái điện thọai (telephone receiver)
Cái đài……………………………………………………………. = Radio, máy phát thanh
Cái nồi ngồi trên cái cóc……………………………………… = Cái phin (lược pha cafe)
Căn hộ……………………………………………………………. = Căn nhà
Căng (lắm)……………………………………………………… = Căng thẳng (intense)
Cầu lông………………………………………………………… = Vũ cầu
Cơ trưởng………………………………………………………. = Phi công
Cụ thể ………………………………………………………….. = Thực tế


Chảnh……………………………………………………………. = Kiêu ngạo, làm tàng
Chặn………………………………………………………………. = Chận, (Ngăn chận v..v..)
Chất lượng……………………………………………………….. = Phẩm chất tốt (chỉ đề cập phẩm “quality,” không đề cập lượng “quantity”)

Chất xám………………………………………………………… = Trí tuệ, sự thông minh
Châu Á…………………………………………………………… = Á Châu (Âu Châu, Úc Châu, Mỹ Châu & Phi Châu)
Chế độ……………………………………………………………. = Quy chế
Chỉ đạo…………………………………………………………… = Chỉ thị, ra lệnh
Chỉ tiêu…………………………………………………………… = Định suất
Chống bão……………………………………………………… = Tránh bão
Chủ nhiệm……………………………………………………… = Trưởng ban, Khoa trưởng
Chủ trì…………………………………………………………… = Chủ tọa
Chủ yếu…………………………………………………………. = Mục đích … để … là…
Chữa cháy………………………………………………………. = Cứu hỏa
Chiêu đãi………………………………………………………… = Thết đãi, Thiết đãi
Chui……………………………………………………………….. = Lén lút
Chôm chĩa ………………………………………………………. = Ăn cắp, trộm cắp chứ không phải là cướp.


Chuyên chở…………………………………………………… = Nói lên, nêu ra
Chuyển ngữ…………………………………………………… = Dịch
Chứng minh nhân dân……………………………………… = Thẻ Căn cuớc
Chủ đạo…………………………………………………………. = Chính


Co cụm…………………………………………………………… = Thu hẹp
Công đoàn……………………………………………………… = Nghiệp đoàn
Công nghiệp………………………………………………….. = Kỹ nghệ
Công trình………………………………………………………. = Công tác
Cơ bản…………………………………………………………… = Căn bản
Cơ khí (tĩnh từ!)………………………………………………. = Cầu kỳ, phức tạp
Cơ sở……………………………………………………………… = Căn bản, nguồn gốc
Cửa khẩu……………………………………………………….. = Phi cảng, Hải cảng
Cụm từ……………………………………………………………. = Nhóm chữ
Cứu hộ…………………………………………………………… = Cứu cấp


Diện……………………………………………………………….. = Thành phần
Diễu hành………………………………………………………. = Diễn hành (Mới nghe lại tưởng họ làm trò hề ở ngoài đường)
Dự kiến…………………………………………………………… = Phỏng định, dự định…

Đại học mở…………………………………………………….. = ???
Đây là sự góp ý của một độc giải có tên trên FB là Song Triều đã viết như sau: Xin góp ý về chữ “đại học mỡ” : Có thể lấy từ chữ “Open University”, các trường đi học này dạy bằng hệ thống mạng lưới toàn cầu internet (có từ lâu ở Âu Châu và Mỹ, trong đó cũng có vài nước Á Châu).

Đào tị………………………………………………………………. =Tỵ nạn
Đầu ra / Đầu vào…………………………………………….. =Xuất lượng / Nhập lượng
Đại táo / Tiểu táo…………………………………………….. = Nấu ăn chung, ăn tập thể / Nấu ăn riêng, ăn gia đình
Đại trà…………………………………………………………….. =Quy mô, cỡ lớn
Đảm bảo…………………………………………………………. =Bảo đảm
Đăng ký………………………………………………………….. =Ghi danh, ghi tên
Đáp án……………………………………………………………. =Kết quả, trả lời
Đề xuất…………………………………………………………… =Đề nghị
Đội ngũ…………………………………………………………… =Hàng ngũ
Động não……………………………………………………….. =Vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ
Đồng bào dân tộc…………………………………………… =Đồng bào sắc tộc
Động thái……………………………………………………….. =Động lực
Động viên………………………………………………………. =Khuyến khích
Đột xuất………………………………………………………….. =Bất ngờ
Đường băng…………………………………………………… =Phi đạo
Đường cao tốc……………………………………………….. =Xa lộ


Gia công…………………………………………………………. =Làm ăn công
Giải phóng……………………………………………………… =Lấy lại, đem đi… (riêng chữ này bị VC lạm dụng rất nhiều)


Giải phóng mặt bằng……………………………………… =Ủi cho đất bằng
Giản đơn………………………………………………………… =Đơn giản
Giao lưu…………………………………………………………. =Giao thiệp, trao đổi


H(h)……………………………………………………………….. =Giờ, ví dự như 1h là 1g (giờ).
Lai căng theo đế quốc (1 h = One hour)


Hạch toán………………………………………………………. =Kế toán
Hải quan………………………………………………………… =Quan Thuế
Hàn Quốc……………………………………………………….. =Đại Hàn, Nam hoặc Bắc Hàn hay còn gọi là Triều Tiên


Hàng không dân dụng…………………………………… =Hàng không dân sự
Hát đôi……………………………………………………………. =Song ca
Hát tốp……………………………………………………………. =Hợp ca
Hạt nhân (vũ khí)……………………………………………. =Nguyên tử
Hậu cần………………………………………………………….. =Tiếp liệu
Học vị……………………………………………………………… =Bằng cấp
Hệ quả……………………………………………………………. =Hậu quả
Hiện đại………………………………………………………….. =Tối tân
Hộ Nhà…………………………………………………………… =Gia đình
Hộ chiếu…………………………………………………………. =Sổ Thông hành
Hồ hởi…………………………………………………………….. =Phấn khởi
Hộ khẩu………………………………………………………….. =Tờ khai gia đình
Hội chữ thập đỏ……………………………………………… =Hội Hồng Thập Tự
Hội Hồng Nguyệt……………………………………………. =Trăng lưỡi liềm Đỏ
Hoành tráng…………………………………………………… =Nguy nga, tráng lệ, đồ sộ
Hưng phấn…………………………………………………….. =Kích động, vui sướng
Hữu hảo…………………………………………………………. =Tốt đẹp
Hữu nghị………………………………………………………… =Thân hữu
Huyện…………………………………………………………….. =Quận


Kênh………………………………………………………………. =Băng tần (Channel)
Khả năng (có)………………………………………………… =Có thể xẩy ra (possible)
Khẳng định…………………………………………………….. =Xác định
Khẩn trương…………………………………………………… =Nhanh lên
Khâu………………………………………………………………. =Bộ phận, nhóm, ngành, ban, khoa
Khuyết danh…………………………………………………… =Vô Danh. (Người không tên v…v…)
kiên quyết………………………………………………………. =Qủa quyết (mạnh mẻ, đứng đắng …v…v…)
Kiều hối………………………………………………………….. =Ngoại tệ
Kiệt suất…………………………………………………………. =Giỏi, xuất sắc
Kinh qua………………………………………………………… =Trải qua


Làm gái…………………………………………………………… =Làm điếm
Làm việc…………………………………………………………. =Thẩm vấn, điều tra
Lầu năm góc / Nhà trắng………………………………… =Ngũ Giác Đài / Tòa Bạch Ốc
Lễ tân……………………………………………………………… =Tiêp tân (người đón, tiếp khách mới vào…)
Liên hoan……………………………………………………….. = Đại hội, ăn mừng
Liên hệ…………………………………………………………… = Liên lạc (contact)
Linh tinh…………………………………………………………. = Vớ vẩn
Lính gái………………………………………………………….. = Nữ quân nhân
Lính thủy đánh bộ………………………………………….. = Thủy quân lục chiến
Lợi nhuận………………………………………………………. = Lợi tức
Lược tóm………………………………………………………… = Tóm lược
Lý giải…………………………………………………………….. =Giải thích (explain)

Màn hình ………………………………………………………… = Màn Ảnh như màn ảnh TV, màn ảnh chiếu phim v…v..

Máy bay lên thẳng………………………………………….. =Trực thăng
Manh Động………………………………………………….. = Bạo Động, Hung Hăng, Dữ tợn…v…v…

Múa đôi…………………………………………………………… =Khiêu vũ
Mĩ……………………………………………………………………. =Mỹ (Hoa kỳ =USA)
Minh chứng……………………………………………………. =Chứng minh


Nắm bắt………………………………………………………….. =Nắm vững
Nâng cấp………………………………………………………… =Nâng, hoặc đưa giá trị lên
Năng nổ…………………………………………………………. =Siêng năng, tháo vát
Nghệ nhân…………………………………………………….. =Nghệ sĩ
Nghệ danh……………………………………………………… =Tên (nghệ sĩ = stage name) dùng ngoài tên thật
Nghĩa vụ quân sự………………………………………….. =Đi quân dịch
Nghiêm túc…………………………………………………….. =Nghiêm chỉnh
Nghiệp dư………………………………………………………. = Đi làm thêm (2nd job / nghề phụ, nghề tay trái)
Nhà đài…………………………………………………………… = Đài phát thanh. Cẩn thận, VN phân biệt “đài phát thanh” và”đài truyền thanh”.


Nhà khách……………………………………………………… = Khách sạn
Nhân thân………………………………………………………. = Người thân.Vai vế tước quyền thuộc lý lịch bản thân người nào đó. = (Ví dụ bác Sỹ có nhân thân tốt (Đảng viên cao cấp) nên dẫu đớptriệu đô vẫn bị xử nhẹ hều!! Quan trọng là đô nuốt rồi thì ém luôn, sướng tê)


Nhất trí……………………………………………………………. = Đồng lòng,đồng ý
Nhân viên bảo vê…………………………………………… =Nhân viên trật tự
Nhất quán………………………………………………………. =Luôn luôn, trước sau như một
Người nước ngoài…………………………………………. = Ngoại kiều
Nguy kịch……………………………………………………….. = Trầm trọng
Nỗi niềm (tĩnh từ!)…………………………………………… = Vẻ suy tư


Phần cứng……………………………………………………… = Cương liệu
Phần mềm……………………………………………………… = Nhu liệu
Phẫu thuật……………………………………………………… =Giải Phẫu
Phản ánh……………………………………………………….. = Phản ảnh
Phản hồi………………………………………………………… = Trả lời, hồi âm
Phát hiện……………………………………………………….. = Phát giác
Phát sóng……………………………………………………….. = Phát thanh
Phó Tiến Sĩ…………………………………………………….. = Cao Học
Phòng cháy chưã cháy………………………………….. =Sở cứu hoả
Phi khẩu…………………………………………………………. =Phi trường, phi cảng
Phi vụ…………………………………………………………….. = Một vụ trao đổi thương mại (a business deal = thương vụ)


Phục hồi nhân phẩm……………………………………… = Hoàn lương
Phương án…………………………………………………….. = Kế hoạch


Quá tải……………………………………………………………. = Quá sức, quá mức
Quán triệt……………………………………………………….. = Hiểu rõ,hiểu thấu đáo v..v…
Quản lý…………………………………………………………… =Quản trị
Quảng trường………………………………………………… = Công trường
Quân hàm………………………………………………………. = Cấp bực
Quy hoạch……………………………………………………… = Kế hoạch
Quy trình………………………………………………………… =Tiến trình


Sổ hộ khẩu…………………………………………………….. =Sổ gia đình (tờ khai gia đình)
Sốc (“shocked)”………………………………………………. =Kinh hoàng, kinh ngạc, ngạc nhiên
(Tại sao chữ Việt cả kho trong tự điển không dùng, mà lại bắt chước thằng Mỹ để dùng chữ Sốc = Shocked? Đúng là Đừng nghe những gì CS nói, mà . . . Biếtrồi không nhắc nữa nhé!)


Sơ tán…………………………………………………………….. = Tản cư
Sinh chứng……………………………………………………. = (Giấy, Tờ…) Khai Sinh
Sư…………………………………………………………………… = Sư đoàn
Sức khỏe công dân………………………………………… = Y tế công cộng
Sự cố……………………………………………………………… = Trở ngại


Tập đoàn / Doanh nghiệp………………………………. =Công ty
Tấm biển………………………………………………………… =Tấm bảng (cái bảng quảng cáo v…v…)
Tên lửa…………………………………………………………… =Hỏa tiễn
Tham gia lưu thông (xe cộ)…………………………….. = Lưu hành, giao thông
Tham quan…………………………………………………….. = Thăm viếng
Thanh lý…………………………………………………………. =Thanh toán, chứng minh
Thân thương………………………………………………….. = Thân mến
(Làm ơn mọi người đừng dùng chữ Thân-Thương trên sân khấucũng như khi viết bài nhé)


Thi công…………………………………………………………. = Làm
Thị phần…………………………………………………………. = Thị trường
Thiếu đói………………………………………………………… = Thiếu ăn. (đủ ăn ??? )
Thiết kế…………………………………………………………… = Xây dựng nhà cửa, công trình v..v..
Thu gom…………………………………………………………. =Thu dọn
Thu nhập……………………………………………………….. =Lợi tức
Thư giãn…………………………………………………………. =Tỉnh táo, giải trí
Thuyết phục (tính)………………………………………….. =Có lý (makes sense), hợp lý, tin được
Tiên tiến…………………………………………………………. =Xuất sắc
Tiến công……………………………………………………….. =Tấn công
Tiếp thu………………………………………………………….. =Tiếp nhận, thâu nhận, lãnh hội
Tiêu dùng……………………………………………………….. =Tiêu thụ
Tổ lái………………………………………………………………. =Phi hành đòan
Tờ rơi……………………………………………………………… = Truyền đơn
Tranh thủ……………………………………………………….. = Cố gắng
Trãi nghiệm…………………………………………………….. =Kinh nghệm
Trí tuệ……………………………………………………………… = Kiến thức
Triển khai……………………………………………………….. = Khai triển
Tư duy……………………………………………………………. = Suy nghĩ
Tư liệu……………………………………………………………. = Tài liệu
Tư vấn……………………………………………………………. = Cô vân, (gó ý,đề nghị điều gì vớ ai, giúp ai…)
Từ…………………………………………………………………… =Tiếng, chữ. (Văn chương chữ nghĩa không thể gọi trơ trẽn là Từ, hoặc cái Từ được)


Từ Vựng…………………………………………………………. =Ngữ Vựng
Tự sướng……………………………………………………… =Tự chụp hình mà gọi là Tự Sướng. Một câu nói thậtvô duyên và gần như mất dạy trước công chúng vì nó đồng nghĩa với Thủ Dâm.


Ùn tắc…………………………………………………………….. =Tắt nghẽn. (Một câu nói vô duyên và mang tính chât Nô Lệt Tàu quá đáng, giốngnhư câu nói Ừm-Tắc = Không được củatiếng Quãng Đông)


Va quệt…………………………………………………………… =Va chạm, đụng chạm
Vấn nạn…………………………………………………………. =Vấn đề
Vận động viên………………………………………………… =Lực sĩ
VC Cải tạo………………………………………………………. =VN Tù khổ sai
VC Chui cửa hậu…………………………………………… =VN Công du
VC (cục) Đường biển…………………………………….. =VN (cuộc) Hàng hải
VC (cục) Đường sắt……………………………………….. =VN (cuộc) Hỏa xa
VC Giao cấu…………………………………………………… =VN Giao hợp
VC Giá mềm…………………………………………………… =VN Giá rẻ
VC Giá hữu nghị……………………………………………. =VN Giá tượng trưng
VC hâm, tửng…………………………………………………. =VN Khùng, mát giây
VC Hộ lý…………………………………………………………. =VN Dâm nô
VC Khẩu trang……………………………………………….. =Băng vệ sinh VN
VC Nhân thân………………………………………………… =VN Thân nhân
VC Quản lý…………………………………………………….. =VN Sở hữu
VC Làm chủ……………………………………………………. =VN Nô lệ
VC Sân bay……………………………………………………. =VN Phi trường
VC: Tài chủ nước lạ……………………………………….. = VN: Tàu cộng xâm lăng
VC Tàu vũ trụ…………………………………………………. = VN phi thuyền
VC Tiến sĩ hữu nghị………………………………………. = VN Tiến sĩ giấy – tiến sĩ dzỏm
VC ?? ?? ??……………………………………………………. = VN Trạm không gian


Viện Ung Bướu……………………………………………… = Viện Ung Thư
Vòng Xoay……………………………………………………… =Bùng Binh (…chợ Bến Thành SG)
Vô tư………………………………………………………………. = Tự nhiên


Xác minh………………………………………………………… = Xác nhận
Xác tín…………………………………………………………….. = Chính xác
Xe con……………………………………………………………. = Xe du lịch
Xe khách………………………………………………………… = Xe đò
Xu hướng………………………………………………………. = Khuynh hướng
Xuất khẩu………………………………………………………. = Xuất cảng
Xử lý……………………………………………………………….. =Giải quyết, thi hành
Xưởng đẻ……………………………………………………….. = Bệnh viện phụ sản


(… còntiếp)


* Quý vị nào thấy có thêm những chữ loại này ở đâu đó (?) hoặc thấy sự đối chiếu trong bảng này chưa đúng lắm (!) thì xin vui lòng mách dùm để “nhà cháu” bổ túc (không phải bổ sung) và sửa chữa lại cho đúng (không phải là hoàn chỉnh hoặc sửa đổi) , và cũng để cho mọi người cùng phấn khởi (không phải là hồ hởi) để mà tham khảo thêm.
– Xin Đa tạ…


Trần Văn Giang [ghi chép lại]


TCB tôi sưu tầm. (bc)

Categories
Cảnh Báo Tuyên Truyền Giải Ảo Lịch Sử

HÃY TRẢ LẠI SỰ THẬT VỀ BỨC ẢNH NGƯỜI LÍNH MỸ NHÌN….

🧩 Tấm ảnh này là của phóng viên Larry Burrows (1926-1971), ông là phóng viên chính thức của báo Life trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Tấm ảnh chụp:

người lính Mỹ nhìn người mẹ Việt Nam đang cho con bú

“người lính Mỹ nhìn người mẹ Việt Nam đang cho con bú” được chú thích dưới bức ảnh này trong một cuộc triển lãm lần đầu vào năm 1972 do Rochester Institute of Technology tổ chức và lần hai vào tháng 11 năm 2011 tại San Benito Exhibition Hall do Laurence Miller Gallery tổ chức.

Cuộc triển lãm mang tên: “Vietnam. 50 years. Photographs by Larry Burrows” gồm có 21 tấm ảnh được chụp trong một cuộc hành quân.

Chiến sĩ Hoa Kỳ được cố tác giả Larry Burrows chụp hình nhìn người mẹ Việt Nam cho con bú chính là Binh Nhì James Farley, năm ông 21 tuổi.

Bức ảnh này được chụp vào ngày 1 tháng 5 năm 1970 – thì vào ngày 10 tháng 2, 1972 (February 10, 1972),

Binh Nhì James Farley đã hy sinh vì chiếc trực thăng chở ông đã bị VC bắn rơi gần Lào.

Người lính James Farley là một người lính hiền từ, ông là một trong những người lính thích giúp đỡ người cô thế như đàn bà trẻ em tại Việt Nam, những vùng ông đi qua.

Cuộc đời của người lính trẻ Binh Nhì James Farley được tác giả Larry Burrows viết thành sách mà các bạn có thể mua tại Amazon.

“Larry Burrows: Vietnam: Larry Burrows, David Halberstam: 9780375411021: Amazon.com: Books”

Báo chí Đảng CSVN đã đưa lên một tuyên truyền sai lệch của bức ảnh qua bài viết:

“Gặp lại ’em bé’ trong bức ảnh mẹ cho bú trước khi bị tên lính Mỹ hành quyết”

Bài báo của VTC làm phỏng vấn Cụ Lê Văn Dõng (Năm Dõng) – Chồng của nữ anh hùng liệt sỹ Nguyễn Thị Tư kể rằng vào đầu năm 1970, …

“sau khi cho bé Linh bú những giọt sữa cuối, chúng giành giật bé trên tay chị và vứt bé trên miếng ván ngoài trời. Vừa để tuột con khỏi tay,

chị bị nòng súng địch bắn thẳng vào đầu, chết tại chỗ.”

Câu chuyện được cụ Lê Văn Dõng kể là đầu năm 1970, tại Sóc Trăng, người lính Mỹ trong ảnh (Binh Nhì James Farley) đã giành giật “bé Linh” (trong ảnh) rồi vứt đứa bé ngoài trời, sau đó bắn vào đầu người mẹ!

https://vtc.vn/gap-lai-em-be-trong-buc-anh-me-cho-bu-truoc-…

(1) Bức ảnh này được Larry Burrows chụp ở Khe Sanh Lào chứ không phải tại Sóc Trăng như VC đã tuyên truyền. Binh Nhì James Farley chưa từng đến Sóc Trăng khi tham gia chiến tranh tại Việt Nam.

(2) Bức ảnh chụp vào 1 tháng 5 năm 1970 chứ không phải chụp vào ngày đầu năm 1970 như VTC viết.

(3) Binh Nhì James Farley là một anh hùng hay giúp đỡ người Việt Nam, trực thăng của anh bị bắn rơi gần Lào vào tháng 2 năm 1972 – 2 năm sau khi anh được phó nhòm chụp bức ảnh này tại Khe Sanh.

(*) Thiết nghĩ Bộ Máy Đảng CSVN nên chấm dứt tuyên truyền láo khoét vì thời đại Internet hôm nay,

không phải là thời điểm của những năm 1945 nữa.

Nguồn: Cộng Hoà Thời Báo